Ngày 16 tháng 07 năm 2021

Làm thế nào doanh nghiệp có thể xây dựng khả năng phục hồi chuẩn bị cho thời kì bình thường mới

COVID-19 đã có tác động đáng kể đến chuỗi cung ứng toàn cầu, những nghiên cứu trước đây cho thấy rằng các công ty có thể gặp nhiều cú sốc hơn ở phía trước — với tần suất và mức độ nghiêm trọng hơn. Theo McKinsey Global Institute (MGI), các công ty báo cáo rằng sự gián đoạn chuỗi cung ứng kéo dài từ một tháng trở lên xảy ra hầu như bốn năm một lần, dẫn đến thiệt hại trị giá gần 45% EBITDA của một năm trong suốt một thập kỷ.

Khả năng phục hồi là gì và một tổ chức có đủ khả năng phục hồi sẽ được hình dung như thế nào?

Nói một cách đơn giản, khả năng phục hồi có nghĩa là dù trong chuỗi cung ứng vật chất hay cung cấp dịch vụ bị gián đoạn, tổ chức vẫn có khả năng tiếp tục hoạt động. Sự gián đoạn đó có thể từ việc nhà cung cấp không còn hàng tồn kho, hoặc đột nhiên phải đối mặt với nhu cầu từ khách hàng tăng gấp ba lần. Khả năng phục hồi là khả năng linh hoạt và thích ứng với sự gián đoạn bằng cách có dự phòng trong chuỗi cung ứng, hàng tồn kho cũng như tính linh hoạt trong hoạt động của doanh nghiệp.

Mới đây, một nghiên cứu của Microsoft và IDC đã được công bố. Theo đó, trước và sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát, 74% lãnh đạo doanh nghiệp tham gia cuộc khảo sát cho rằng đổi mới là điều bắt buộc và khả năng đổi mới đóng vai trò quan trọng đối với hiệu suất cũng như khả năng chống chịu của doanh nghiệp. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đã có một số nỗ lực như việc lập kế hoạch cho việc kinh doanh cũng như tìm kiếm và giải quyết các lỗ hổng trong hoạt động kinh doanh. Nếu so với trước đây, những kế hoạch đó mang tính thực tiển nhiều hơn trước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần phải áp dụng có nhiều kỹ thuật số hơn — chẳng hạn như sử dụng các kỹ thuật lập kế hoạch tự chủ để cung cấp khả năng hiển thị và minh bạch hơn trong hoạt động tại doanh nghiệp — hoặc sử dụng khả năng phân tích để thay đổi cơ bản cách họ cung cấp dịch vụ. Những công nghệ kỹ thuật số này được thiết kế để cải thiện năng suất.

Hiện tại, nhiệm vụ của các doanh nghiệp không đơn thuần là làm thế nào để có thể trở lại trạng thái bình thường như trước mà là làm thế nào để kiên cường hơn trong một thế giới đã thay đổi. Tầm nhìn được thể hiện qua chiến lược. Doanh nghiệp cần suy nghĩ xa hơn những gì tổ chức nghĩ là có thể - đặc biệt trong thời điểm tốc độ và sự nhanh nhạy là thiết yếu để tồn tại. Doanh nghiệp nào khám phá được tiềm năng khác biệt của tổ chức mình sẽ đáp ứng và thích nghi với hoàn cảnh dễ dàng hơn, và thêm một lưu ý chính là doanh nghiệp cần có nguồn lực nhân sự được trang bị kỹ năng phù hợp để thực hiện việc chuyển đổi. Họ cũng cần có những nền tảng công nghệ thích hợp và an toàn với khả năng trao quyền cho nhân viên tiếp cận từ xa và phát triển kinh doanh trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Làm thế nào các doanh nghiệp có thể trở nên linh hoạt hơn?

Trước COVID-19, nhiều công ty đã xác định các thành phần chiến lược— ví dụ, nguồn cung ứng kép — và họ sẽ tạo ra các kế hoạch liên tục xung quanh những thành phần đó. Nhưng trong thời kỳ đại dịch, chúng ta thấy rằng chuỗi cung ứng của một công ty có thể bị gián đoạn vì chuỗi cung ứng đến từ một nhà cung cấp cách xa nửa vòng trái đất. Vì vậy, các công ty không thể phân khúc như trước đây. Các doanh nghiệp buộc phải phân khúc theo rủi ro và suy nghĩ về việc lập kế hoạch toàn cầu một cách chặt chẽ.

Ở những nơi khác, chúng ta đã thấy việc áp dụng công nghệ mới tích cực như thế nào cho phép linh hoạt hơn với chi phí thấp hơn — các công ty có thể sản xuất số lượng nhỏ hơn với chi phí thấp hơn và sau đó dễ dàng cho phép phân phối những hàng hóa và dịch vụ đó hơn. .Và cuối cùng, điều quan trọng đối với các CEO phải thấy rằng khả năng phục hồi là năng lực cốt lõi không thể bị đánh giá thấp hoặc chỉ ưu tiên trong những thời điểm khó khăn. Các phương pháp tiếp cận kỹ thuật số từ đầu đến cuối có thể biến đổi trải nghiệm của khách hàng và mang lại lợi ích cho cả giá trị tài chính và văn hóa của một công ty.

Chuyển đổi số “cây cầu” giúp doanh nghiệp trở nên linh hoạt hơn?

Chuyển đổi số là một trong những mục tiêu được quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Chính phủ Việt nam cũng đặc biệt quan tâm đến vấn để chuyển đổi số trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và giao cho Bộ Thông tin &Truyền thông xây dựng Đề án Chuyển đổi số quốc gia và trình Đề án cho Thủ tướng ngay trong năm 2019.  

“Chuyển đổi số” (Digital Transformation) có thể dễ bị nhầm lẫn với khái niệm “Số hóa” (Digitizing). Để phân biệt hai khái niệm này, có thể hiểu rằng “Số hóa” là quá trình hiện đại hóa, chuyển đổi các hệ thống thường sang hệ thống kỹ thuật số (chẳng hạn như chuyển từ tài liệu dạng giấy sang các file mềm trên máy tính, số hóa truyền hình chuyển từ phát sóng analog sang phát sóng kỹ thuật số...); trong khi đó, “Chuyển đổi số” là khai thác các dữ liệu có được từ quá trình số hóa, rồi áp dụng các công nghệ để phân tích, biến đổi các dữ liệu đó và tạo ra các giá trị mới hơn. Có thể xem “Số hóa” như một phần của quá trình “Chuyển đổi số”.

Có thể nói chuyển đổi số được xem là một công cụ thực tiển giúp doanh nghiệp chuẩn bị nền tảng cho việc xây dựng khả năng phục hồi trong thời kỳ bình thường mới. Những lợi ích dễ nhận biết nhất của chuyển đổi số đối với doanh nghiệp đó là cắt giảm chi phí vận hành, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn trong thời gian dài hơn, lãnh đạo ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo thông suốt kịp thời, tối ưu hóa được năng suất làm việc của nhân viên... những điều này giúp tăng hiệu quả hoạt động và tính cạnh tranh của tổ chức, doanh nghiệp được nâng cao.

Tại thị trường Việt Nam, có rất nhiều nền tảng chuyên phục vụ cho việc chuyển đổi số tại doanh nghiệp, với hơn 20 năm trong lĩnh vực ứng dụng phần mềm – nền tảng chuyển đổi số cho doanh nghiệp WorkIT đang được nhiều doanh nghiệp tin tưởng và sử dụng trong đó có những doanh nghiệp đầu ngành như Lộc Trời, Gemadept, Hado, Thaco và …

Vui lòng điền các tin sau
hệ thống WorkIT.vn sẽ tự động email thông tin cho Bạn. Cảm ơn